Trang chủ Dieu tri viem gan c, Điều trị viêm gan C như thế nào?

Dieu tri viem gan C như thế nào?

Đáp:

Khoảng 170 triệu người trên thế giới bị nhiễm virus viêm gan c (HCV). Các trị liệu hiện nay đối với nhiễm virut viêm gan C mãn tính (Bảng 34.1) chỉ có hiệu quả ở khoảng 50% bệnh nhân. Ngoài ra, các phương pháp trị liệu dieu tri viem gan c đều tốn kém, kéo dài, liên quan với các tác  dụng phụ đáng kể và không thích hợp cho tất cả bệnh nhân.

May thay, hiện nay nhiều phương pháp điều trị viêm gan c mới đối với nhiễm HCV đang được thiết kế và đánh giá trong các nghiên cứu tiền lâm sàng trên động vật và trên người. Đối với những bệnh nhân bị nhiễm viêm gan c, và bị bệnh gan to một trị liệu lý tưởng nên có hiệu quả cao, sinh khả dụng đường uống, không có tác dụng phụ nặng và có thể chấp nhận được. Trong khi một thuốc như thế không chắc sẽ được phát triển trong tương lai gần, một số hợp chất mới và hứa hẹn có thể cải thiện đáng kể các lựa chọn dieu tri viem gan C hiện tại. Nhiều hợp chất đã được thiết kế dựa trên cơ sở nhận thức về cơ chế sao chép của HCV, sự đi vào tế bào và đáp ứng miễn dịch tế bào của vật chủ. Các hợp chất khác có thể làm chậm sự tiến triển của bệnh gan. Trong chương này, chúng tôi nêu bật và tóm tắt nhiều chất trong số này đang được phát triển và nghiên cứu.

 

                                                   Khó phát hiện và dieu tri viem gan c

 

 

I. Các thuốc dieu tri viem gan c ở các phase phát triển khác nhau

 

Loại thuốc

Hợp chất

Phase 
phát triển

Chú thích

Các phân tử nhỏ và các chất ức chế enzyme của virus

Chất ức chế NS3 helicase

 

Tiền lâm sàng và phase 1

Nhiều thuốc ở vào giai đoạn tiền lâm sàng. Sự phát triển của một hợp chất đã ngừng lại trong các nghiên cứu giai đoạn sớm ở mức liều dùng

Chất ức chế NS5B polymerase

JTK- 003

Phase 1 và 2

Ức  chế sự sao chép RNA của HCV trong nuôi cấy tế bào

 

JTK-109

Tiền lâm sàng

Ức chế sự sao chép RNA của HCV trong nuôi cấy tế bào

 

NM-283

Phase 1 và 2

Ức chế sự sao chép RNA của HCV trong nuôi cấy tế bào. Đã có báo cáo sơ bộ giảm đến 1 log trong các thử nghiệm lâm sàng ngắn hạn giai đoạn sớm

Chất ức chế p7

Các dẫn xuất của đường dạng imino chuỗi alkyl dài

Phase 2

Có hoạt tính kháng virus, chống lại virus gây bệnh tiêu chảy ở bò. Các dữ liệu lâm sàng còn tồn tại chưa giải quyết ở những bệnh nhân bị nhiễm virut viêm gan c

Ribozyme

Trực tiếp ở các vị trí đi vào bên trong ribosome (IRES)

Phase 1 và 2

Đã ngừng phát triển thêm do những phát hiện về độc tính ở động vật

Oligonucleotide đối mã

ISIS-14803

Phase 2

Đã quan sát thấy giảm > 1 log ở một số bệnh nhân nhiễm HCV không đáp ứng, liên quan với tăng ALT thoáng qua không triệu chứng

RNA can thiệp kích thước nhỏ    (siRNA) và RNA can thiệp (eiRNA)

 

Tiền lâm sàng

Sử dụng RNA chuỗi kép để điều hòa giảm biểu hiện gen sau dịch mã

Chất ức chế NS3 serine protease

 

Tiền lâm sàng và phase 1

Nhiều loại thuốc từ các nhóm khác nhau ở vào giai đoạn phát triển tiền lâm sàng. Một thuốc là BILN-2061 đã được đưa vào thử nghiệm phase 1 và có liên quan với sự ức chế virus hoàn toàn, nhưng sự phát triển thêm đã ngừng lại

Các chất hoạt hóa miễn dịch không đặc hiệu

Interferon

IFN-α-2a

Đã được duyệt

Roferon-A (Roche) 3 triệu đơn vị, 3 lần/tuần, tiêm dưới da

 

IFN-α-2b

Đã được duyệt

Intron A (Schering-Plough), 3 triệu đơn vị, 3 lần/tuần, tiêm dưới da

 

IFN alfacon-I

Đã được duyệt

Infergen (InterMune), 9 µg, 3 lần/tuần, tiêm dưới da

 

PEG-IFN-α-2a

Đã được duyệt

Pegasys (Roche), 180 µg, 1 lần/tuần, tiêm dưới da

 

Albuferon

Phase 2

Dung hợp interferon với albumin để làm tăng thời gian bán thải
Các dữ liệu sơ bộ cho thấy là thời gian bán thải kéo dài và hiệu quả kháng virus               tương tự

 

Omega-interferon (IFN-ω)

Phase 2

Thay thế IFN type 1. Các nghiên cứu giai đoạn sớm cho thấy tác dụng kháng virus tương tự với các IFN type 1 và dữ liệu về tác dụng phụ tương tự

 

Gama-interferon (IFN-γ)

Phase 2

Các nghiên cứu về sự phối hợp với IFN type 1 đối với những bệnh nhân không đáp ứng đang được tiến hành

 

Các IFN dùng đường uống

Phase 1

Hấp thu IFN qua đường uống

Chất gây cảm ứng sinh interferon dùng đường uống

Imiquimod

Tiền lâm sàng

Đã được duyệt sử dụng như 1 thuốc dùng tại chỗ trong khoa da liễu

 

Resiquimod

Phase 2

Các nghiên cứu cho thấy không có tác dụng kháng virus hoặc cảm ứng cytokine nhưng các liều đã dùng có thể không đầy đủ

 

ANA 245

Phase 1

Chất tương tự nucleoside trọng lượng phân tử thấp

 

ANA 971

Phase 1

Chuyển giao ANA 245 đến huyết tương của các động vật khác nhau

Chất tương tự nucleoside

Ribavirin*

Đã được duyệt

Copegus (Roche), 0,8 -1,4 g/ngày dùng đường uống† 
Rebetol (Schering-Plough), 0,8 – 1,4 g/ngày, dùng đường uống†

 

Levovirin

 

Đã ngừng phát triển do các vấn đề về hấp thu và chuyển giao thuốc

 

Viramidine

Phase 3

‘Tiền thuốc’ của ribavirin có sự thu nhận ưu tiên vào gan. Các thử nghiệm quốc tế trên phạm vi rộng đa trung tâm, sử dụng phối hợp với PEG-IFN đang được tiến hành

 

ANA 246

Tiền lâm sàng

Hợp chất dùng đường uống làm tăng đáp ứng cytokine type 1

Chất ức chế IMPDH

VX-497

Phase 2

Chất ức chế IMPDH đặc hiệu, không làm tan huyết, các thử nghiệm thêm với IFN và ribavirin đang được tiến hành

 

Mycophenylate mofetil

Phase 2

Đánh giá hiệu quả khi phối hợp với IFN-α ở những bệnh nhân không đáp ứng đang được tiến hành

Thuốc kháng virus phổ rộng

Amantadine

Phase 2

Nhiều thử nghiệm lâm sàng đánh giá hiệu quả khi dùng với IFN hoặc IFN và ribavirin ở các nhóm nghiên cứu gồm những bệnh nhân chưa từng điều trị và những bệnh nhân không đáp ứng

 

Rimantadine

Phase 2

Các thử nghiệm tương tự như những thử nghiệm đối với amantadine

Thuốc điều biến miễn dịch khác

Histamine 
dihydrocholoride

Phase 2

Chất hoạt hóa tế bào diệt tự nhiên (NK). Phối hợp với PEG-IFN và ribavirin trong các thử nghiệm lâm sàng ở những bệnh nhân không đáp ứng

 

Thymosin α-1

Phase 2 và 3

2 thử nghiệm trên phạm vi rộng so sánh PEG-IFN đơn thuần hoặc với thymosin α-1 ở những bệnh nhân không đáp ứng

 

IL-10

Phase 2 và 3

Cytokine kháng viêm. Thử nghiệm ngẫu nhiên có kiểm chứng đã thất bại trong việc cho thấy lợi ích xét về mặt xơ hóa; IL-10 có liên quan với giảm các trị số ALT và viêm gan, nhưng tăng các nồng độ virus

 

IL-12

Phase 2 và 3

Cytokine tiền viêm. Thử nghiệm phase 2 cho thấy sự thiếu hiệu quả và có độc tính đáng kể

Gây miễn dịch thụ động

 

HCIg

Phase 1 và 2

Globulin miễn dịch âm tính với RNA của HCV hiệu giá cao trong mẫu gộp được bất hoạt. Thử nghiệm ban đầu để đánh giá sự  nhiễm HCV tái phát sau ghép gan

Tiêm chủng trị liệu

 

Vắcxin trị liệu E1

Phase 2

Sử dụng vắcxin E1 ở bệnh nhân nhiễm HCV sau 28 tuần đã tạo ra các nồng độ kháng thể E1 có thể phát hiện được và đáp ứng tế bào T đặc hiệu

 

Văcxin trị liệu E1/E2

Tiền lâm sàng và phase 1

Văcxin E1/E2 tái tổ hợp có hiệu quả trong việc phòng ngừa nhiễm trùng hoặc bệnh mạn tính ở tinh tinh

 

Protein dung hợp NS3-NS4-NS5-lõi

Phase 1

Kết hợp với một chất bổ trợ, mồi đáp ứng mở rộng của tế bào T CD4+ và CD8+ ở tinh tinh

Thuốc chống xơ hóa

 

IFN-γ-1b

Phase 2

Thử nghiệm chống xơ hóa trên phạm vi rộng đã không đạt được kết quả xét về tác dụng chống xơ hóa

 

                Chúc mọi người có được phương pháp dieu tri viem gan c hiệu quả nhất.

Xem thêm : Cach chua benh nong gan

Nguồn cấp: Internet